Võ Văn Trực với những câu thơ cháy đến tận cùng buồn vui

THÁI DOÃN HIỂU

Nhà thơ Võ Văn Trực thuộc loại tài thì vừa phải nhưng tình thì rất lớn. Chính cái chân tình đó đã giúp anh bù đắp được vào năng lực còn hạn chế và mong manh của mình vươn lên đạt được những thành tựu mới đóng góp cho kho tàng thi ca hiện đại của dân tộc 4 bài thơ xuất sắc: "Chị Vĩnh viễn từ nay Thu về một nửa và Nghĩa địa làng người ta sẽ còn đọc mãi.

Thơ ca viết về người mẹ có rất nhiều nhưng xưa nay chỉ có bài Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa của nhà thơ Nguyễn Duy là hay hơn cả. Danh tác thứ hai về đề tài này là bài Vĩnh viễn từ nay của anh Võ. Chúng tôi xin nói kỹ về bài thơ Vĩnh viễn từ nay của anh.

Các bậc sinh thành ai cũng thấm hiểu điều này: người nào thiếu con cái là thiếu ánh sáng trong nhà. Thành thử chúng ta là của cải quý nhất là công trình lớn nhất đời được chăm bẵm xây đắp rất công phu của các bà mẹ. Trong việc nuôi dạy con cái quả là báu vật đang nằm gọn trong tay các mẹ. Becsna Sô bảo rằng: "Vũ trụ có nhiều kỳ quan nhưng kỳ quan tuyệt phẩm nhất là trái tim người mẹ". Vâng ai chẳng có mẹ? Ngay cả Thượng đế cũng còn có mẹ mà! Này là dòng sữa ngọt ngào từ bầu vú mẹ bát cơm thơm dẻo từ tay mẹ nấu đơm này là làn gió mát lành từ chiếc quạt mo mẹ quạt. Mẹ lật đật chạy đến đỡ ta khi ta vấp ngã hôn lên vết trầy xước để rịt chỗ đau. Người kể những chuyện cổ tích thần kỳ người dịu dàng hát ru đưa giấc ngủ của ta vào đêm mơ.
Lời mẹ hát phả vào con ấm nóng
Lẫn với mùi rơm rạ của đồng quê
Câu ca dao hoà lẫn với câu vè
Như ngọn suối chảy tràn trong tâm tưởng
Của thơ con suốt mấy chục năm trời.

Nơi trú ngụ và ẩn nấp vững chắc nhất là lòng mẹ. Thật là cơm nặng áo dày. Mẹ là tất cả quê hương.
Anh Võ hiểu rất rõ chu kỳ này: thoạt đầu khi còn bé con cái đè nặng lên đầu cha mẹ. Khi lớn lên chúng đè trĩu lên trái tim người. Lòng mẹ là chớp bể mưa nguồn đầy những lo toan. Mẹ lắng nỗi đau chìm nổi của nhân thế với cơm áo chồng con hút hết vào mình rồi chất cả lên đôi vai nhỏ nhoi của mình tất tả đơn độc gánh gồng chạy xuyên qua suốt cuộc đời lận đận. Mẹ đảm đương cả công việc đồng áng nặng nhọc nhất của đàn ông:
Lầy sục đồng Thung chua mặn đồng Lao
Mẹ đã mất cả một thời con gái
Để kênh đồng rửa mặn với thau chua
Dằng dặc thời gian lũ lụt cuốn xô
Lên mặt mẹ tạc vô vàn đợt sóng
....
Con cúi xuống bùi ngùi cầm nắm đất
Nặng bàn tay đời mẹ mặn mồ hôi.

Trái tim của người mẹ luôn hướng về những đứa con thân yêu cho dẫu chúng đã trưởng thành. Tình thương của mẹ dành cho con cái không bao giờ thay đổi.
Ngày mẹ mất Võ Văn Trực về quê chịu tang. Bây giờ anh mới thật sự thấm thía sự hụt hẫng trống vắng.
Bốn mươi tuổi con từng đi khắp ngả
Chân dạn dày gai góc với mưa bom
Đến bữa rày mới thấy thật đời con
Giã từ mẹ- giã từ thời thơ bé
Khung cửa nhỏ mẹ ngồi chiều nắng xế
Ôi hôm nay khung cửa rộng dường bao.

Văn hào Đức Heman Héc có một nhận xét sâu sắc: "Không có mẹ người ta không sống được không có mẹ người ta không chết được". Võ Văn Trực đúc rút được một nhận định xác đáng "Giã từ mẹ- giã từ thời thơ bé".
Võ Văn Trực viết rất hay về mẹ và chị. Viết Vĩnh viễn từ nay khác Nguyễn Duy anh Võ không dùng đến kỹ thuật. Đọc Võ Văn Trực khóc mẹ hay thương chị ta thấy các con chữ biến đi đâu mất cả chỉ còn lại một trái tim hiếu để phập phồng đập trên trang sách. Bao nhiêu lần đọc là bấy nhiêu lần sống mũi tôi cứ cay xè cổ nghẹn lại.

Chuyện đời bao nỗi đục trong
Câu thơ cháy đến tận cùng buồn vui
(Đêm cuối thu)

Võ Văn Trực đã khai triển đường thơ của mình đúng như tuyên ngôn của anh.
Quê nhà thơ Võ Văn Trực là vùng đất chiêm trũng nghèo ở Diễn Châu độc canh cây lúa hầu như không có nghề phụ. Nghề nông ở đây vất vả lắm "Nước xoáy lũng sâu xác rác chiêm mùa- Cắm cây mạ xuống đồng như đánh bạc- Người mặc khố xoay trần ra nuôi đất". Hễ xong vụ cày cấy gặt hái là bà con kéo nhau lên mạn ngược làm thuê. Anh thương "Những người vợ vai gánh hàng xoã tóc - Chạy ngược chiều gió thổi dọc đường thôn". Thiên nhiên xứ Nghệ quá khắc nghiệt thất thường "Một tháng hạn đồng cháy khô nứt nẻ. Một đêm mưa làng hoá đảo chơi vơi". Nhìn ra mênh mông nước trăng băng nhấm chìm cả "biển lúa vàng" anh đau cái đau của bà con ruột thịt xót của "Bát cơm mới toan cầm tay lại đổ- Ac bạc thay trời đất chẳng thương người!" (Đêm mưa lũ). Đời sống của người dân sao mà cay cực thế. Họ quanh năm lầm lụi bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Rồi bão xoáy giật cả giải miền Trung "Mấy trăm người bị mất tích trong đêm".(Mùa thu không yên tĩnh). Nhìn kỹ gương mặt họ anh thấy "Mặt người rạch luống thương đau- Những đường số phận rạch vào thịt da". Chính những người chân đất đầu trần ấy đã chịu thương chịu khó kế tiếp nhau tạo lập nên làng quê yêu dấu "Mồ hôi máu đỏ thắp nên- Vầng dương châu thổ ngọn đèn mom sông".(Đất quê nghèo)

Làng quê Võ Văn Trực được thành lập từ thời Trần. Làng có những gốc đa cây muỗm cổ thụ hàng ba bốn trăm năm có nhiều di tích lịch sử ghi lại quá trình hình thành và phát triển thôn mạc. Làng có núi Hai Vai sừng sững đứng trong truyền thuyết- chứa di tích thời đồ đá và dấu vết nhiều cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm. Làng có ngôi mộ cổ rộng một mẫu đất và nhà thờ Hùng lễ bá Võ Cương- một danh tướng của Lê Lợi. Làng có ngôi đền Bạch Y một nữ thần cứu mạng vua Lê thoát khỏi vòng vây giặc Minh được Nguyễn Trãi ghi trong Lam Sơn thực lục. Võ Văn Trực nói trong nước mắt: "tất cả các di tích này đã bị phá sạch sau Cách mạng tháng Tám. Cả một vùng văn hoá có bề dày 700 năm bị huỷ hoại không thể nào khôi phục được gây cho tôi nỗi day dứt triền miên và để lại dấu ấn khá rõ trong nhiều tác phẩm của tôi". Tiếp đến cảnh dời làng rầm rộ ồ ạt để sắp đặt lại giang sơn của những người quản lý thiếu hiểu biết đã làm cho nhà cửa vườn tược mồ mả lộn tùng phèo.
Một làng vui bỗng lạnh tựa tha ma
Khi tiên tổ ông bà không còn nữa
Mồ côi cả đất đai và ngọn cỏ
Lũ chim non khản giọng lạc bài ca
Mấy chục năm lưu lạc giữa quê nhà.
(Lưu lạc giữa quê nhà)

Anh ngao ngán trước "tan hoang miếu mạo đình chùa" anh rầu rĩ nhìn "cuốn gia phả tả tời thành bụi cát". Anh thất vọng trước "bao âm thanh hỗn tạp - Làm vẩn đục hồn quê". Mỗi lần về thăm nhà đến đầu cổng làng Võ Văn Trực quì sụp xuống "Chắp tay lạy những ngôi mồ tưởng tượng - Nghìn vong linh ớn lạnh cả làn da". Anh đau uất giẫm nát cỏ đồng đi tìm mộ mẹ "Hài cốt mẹ suốt mười năm lưu lạc - Con đốt trầm lạy bốn hướng vu vơ".
Bài thơ Nghĩa địa làng là "âm bản của nước mắt" (chữ của Nguyễn Khắc Thạch) ai điếu cho số phận hẩm hiu bi đát của kiếp người.
Đã bao tầng hài cốt xếp chồng lên
Bao nhiêu cỏ bao nhiêu tầng thế hệ
Mảnh đất chật người đông chen chúc thế
Đã chết rồi vẫn cứ phải chen nhau!
(Nghĩa địa làng)

Đất trả đất cát bụi về cát bụi. Nghĩa địa là nơi sống gửi thịt chết gửi xương. Người dân ỏ nơi đây vội sống và vội chết. Nghĩa địa là biên niên sử của một làng nó giúp ta tưởng nhớ đến các dòng tộc tổ tiên để phụng thờ. Người chết hoá linh thiêng làm người sống phải lụỵ. Người chết níu lấy kẻ sống kẻ sống bíu lấy người chết. Lamáctin cho rằng "Mặt trời của người sống sưởi ấm được linh hồn người chết".
Người nằm dưới kia chân đạp lên đầu
E giấc ngủ khó tròn đêm yên tĩnh?
Tôi rờn rợn nổi da gà ớn lạnh
Kiếp nhân sinh sao quá đỗi nhọc nhằn!

Mộ chí cũ mòn mộ chí lặng câm
Muôn hình dạng như mặt người nhăn nhó
Có phải chăng nỗi buồn tự vạn cổ
Đông lại thành cục uất đá oan khiên.
(Nghĩa địa làng)

Đời người như kiếp phù du như giọt nước bất định trên đài sen như giấc chiêm bao sắc sắc không không. "Cuộc đời ở giữa hai đầu tiếng khóc" (Nguyễn Ngọc Oánh) Có sinh có biệt. Đau khổ vật vã kéo lê cả đời người nhưng chết chỉ trong một khoảnh khắc. Khi chui vào cỗ áo qua