Viết những gì hai nơi đều thấy

Trần Văn Nam

Thời chiến tranh Việt Nam có khuynh hướng văn chương tách rời không đả động gì đến thời thế. Đó chỉ là phản diện của khói lửa biểu hiện sự vùng vẫy ra ngoài cái lưới lồng lộng của chiến tranh. Thời kỳ lưu vong và hải ngoại cũng có khuynh hướng muốn vượt lên không viết những trĩu nặng hoài hương (vì đã có thật nhiều thơ văn đề cập). Chủ trương viết bằng Việt ngữ tinh luyện với những đề tài ngoài chiến tranh ngoài quê hương ngoài sự hội nhập ngoài sự giao thoa văn hóa đó chẳng qua chỉ là một hình thái của cuộc săn tìm độc đáo không muốn viết trùng hợp với những điều đã có quá nhiều người nói đến.

Ta vẫn ở trong dòng ý thức có một khoảng cách cần làm gần lại giữa người ở hải ngoại và người nơi cố quốc. Nếu đề cao làm văn chương bằng Việt ngữ tinh luyện mà viết những gì hoàn toàn xa lạ với đất nước thì cũng tạo ra sự bất thông cảm (ví dụ viết về nếp sống chỉ có nơi ta đang ở viết về những cách điều hành tân tiến nơi công ty nơi ta đang làm). Vì vậy ta nên viết những gì hai nơi cùng thấy thấy một cách rất cụ thể bằng mắt (không phải bằng trực giác hay thấu thị siêu hình) cảm một cách cụ thể qua tạo vật thiên nhiên ở nơi nào cũng ảnh hưởng giống nhau vào tâm hồn:

Trời Cali trời Paris trời thì vẫn thế

Phố xá thênh thang nắng dứt mưa sang hoa nở lại tàn

Đời Cali đời Paris đời thì vẫn thế

Có những hân hoan có những u buồn có đời hợp tan

("Chợt nghĩ về hai nơi" - Nhạc và lời Trầm Tử Thiêng)

Ngoại cảnh thiên nhiên hòa điệu cho tình yêu trai gái nơi nào cũng thế. Họ chỉ khác nhau về trang bị còn trái tim thì vẫn như nhau. Ở hải ngoại vào mùa thu mùa nai vàng gọi nhau tình tự có những cặp nam nữ lái xe "sport" mui trần băng qua sa mạc trên đường đi du ngoạn Las Vegas hay hồ Tahoe tương tự đôi lứa du chơi ngoại ô Paris trong bài "Mùa thu yêu đương" (Nhạc và lời: Lam Phương). Quang cảnh ta nên thi-hóa là "Cây xăng 24 giờ" là "quán Motel giữa đường". Trong khi đó ở Việt Nam có những đôi trai gái rủ nhau đi bằng xe đạp; chở nhau bằng xe gắn máy; những bước chân học trò e ấp đi theo "Tà áo tím" (Nhạc và lời: Hoàng Nguyên) ven bờ Hương Giang đi lên chùa Thiên Mụ. Đi bộ về miền quê qua cầu tre lắt lẻo như trong bài "Lý con sam - Lý chim quyên" ca ngợi tình keo sơn gắn bó; hoặc đi thuyền về quê hương hát quan họ với những bài văn chương bóng bẩy "Bèo giạt mây trôi - Người ơi người ở đừng về..." Trang bị văn minh hay "dễ thương kiểu làng xóm" không thêm hay bớt tình cảm đã tràn ngập trong mùa yêu đương.

Điều hai nơi cùng cảm thấy sau chuyện tình phải kể tới vòm trời tinh tú. Dẫu xa cách hàng ngàn quang niên nhưng các vì sao lấp lánh thân giao với loài người. Nơi nào cũng thấy chỉ trước sau 15 tiếng đồng hồ vì tất cả người Việt đều đang ở dưới vòm trời Bắc Bán Cầu (chỉ người Việt ở Úc Đại Lợi hay Tân Tây Lan mới ở dưới vòm trời Nam Bán Cầu). Vòm trời tinh tú là chất thơ đã có nhiều trong ca dao và đã được nhiều thi sĩ nói tới như vòm trời tinh tú huyền diệu phối hợp mỹ cảm với thần cảm trong thơ Hàn Mặc Tử:

Đang khi màu nhiệm phủ ban đêm

Có thứ gì rơi giữa khoảng im

Rơi tự thượng tầng không khí xuống

Tiếng vang nhè nhẹ dội vào tim

Hàn Mặc Tử nghe hay không nghe chẳng phải bằng giác quan mà bằng tâm hồn chan hòa ánh sáng huyền khải của tôn giáo khi một mình đi dưới vòm trời sương mù Đà Lạt:

Không một tiếng gì nghe động chạm

Dẫu là mảnh vỡ của sao băng.

Thời chiến tranh Việt Nam vòm trời tinh tú trở thành ghê rợn phản chiếu vào vũng nước trong chiếc nón sắt của người tử sĩ cái nón sắt bị bỏ lại bên lau sậy:

Trong cái nón sắt của anh

Mặt trời vẫn còn đó ban ngày

và ban đêm mặt trăng hoặc

muôn muôn triệu triệu vì sao

vẫn còn đó

...

Con ễnh ương vẫn gọi tên anh

trong mưa dầm

Tên anh nghe như tiếng thở dài

của lòng đất mẹ...

("Người tình không chân dung" - Nhạc: Hoàng Trọng.  Lời: Dạ Chung Hoàng Vĩnh Lộc)

Ra hải ngoại vòm trời tinh tú hiếm thấy trong thơ vì quá cũ mòn nhưng lấp lánh trở lại như một lời nhắn cuối cùng cho người còn ở nơi trần thế và đã được nữ tài tử Kiều Chinh đọc trước khi tác giả là nhà văn Mai Thảo được an táng vào lòng đất:

Thế giới có triệu điều không hiểu

Càng hiểu không ra lúc cuối đời

Chẳng sao khi đã nằm trong đất

Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi.

Đó là chất thơ về trăng sao cổ điển đã có thật nhiều trong văn chương rồi nên viết thêm điều gì mới cho hai nơi cùng thấy có lẽ là vòm trời tinh tú của những khám phá về vật lý vũ trụ. Những khám phá khoa học này không còn là phạm vi chuyên môn của các nhà bác học thông thái mà rất thường thấy thông tin trên các nhật báo lớn của Mỹ như Los Angeles Times Orange County The Register Washington Post New York Times các tuần báo NewsweekTime. Hai nơi cùng hướng mắt tò mò nhìn lên vòm trời khi một khám phá được nhắc tới. Ví dụ như trên mỗi thiên hà đều có ít nhất một vì sao biến thiên và nhờ chu kỳ biến thiên đều nhịp của chúng mà ta tính được gần chính xác khoảng cách hàng triệu quang niên giữa các thiên hà. Ví dụ về thí nghiệm cho hai luồng hạt chạy ngược chiều đụng nhau bằng tốc độ ánh sáng làm văng ra các hạt nguyên thủy của vật chất mà chúng đã được sinh ra ngay ở giây phút Big Bang khởi đầu vũ trụ... Đem hiểu biết về khoa học mới phối hợp với mỹ cảm về vòm trời tinh tú dùng các ẩn dụ so sánh để làm sao đạt được thi tính. Cái nên kể là trong thơ về khám phá vật lý vũ trụ ấy cần có sự giải thích nội tại trong bài thơ (để tránh lối chú thích dưới bài thơ như theo cách cổ điển) và cố gắng tránh dùng từ ngữ khoa học làm mất tính chất văn chương. Người viết bài này đã thí nghiệm sáng tác thơ với đề tài những khám phá vật lý vũ trụ theo cách ấy (gồm 13 bài trong Tạp chí Văn hải ngoại từ năm 1990 đến 1997; năm bài trong Giai phẩm Xuân Việt báo năm 2000; 6 bài trong các Giai phẩm Xuân tạp chí Khởi hành năm 2000 2006 2009; 2 bài trong Tạp chí Thơ số Mùa Thu 2004; 4 bài trong các Phụ trang Quán Văn của nhật báo Người Việt năm 2006 và 2007. Các báo trên đều ở Westminster California. (http:// http://www.tranvannam.com/).

Điều hai nơi cùng thấy một cách cụ thể nữa chính là biển biển rất gần gũi với ta. Chẳng có gì lạ vì biển là một thực thể ngàn năm réo gọi loài người biển chiếm tới hai phần ba diện tích trái đất. Dù ở New York hay Sydney dù ở Long Beach Rạch Giá hay Nha Trang nơi nào cũng thấy biển. Mênh mông của biển gợi sự thương nhớ mịt mờ: ta muốn nhắc lại thời kỳ "di tản buồn" đối với một số nhà thơ biển là chất thơ của nghìn trùng xa cách. Đây là thời kỳ tuyệt vọng của "Sài Gòn vĩnh biệt" (vì lúc ấy chưa thiết lập bang giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ). Khởi đi từ "Đêm nhớ trăng Sài Gòn" nhớ vết xe lăn lúc thất thểu nơi một thành phố viễn xứ:

Tìm tôi đèn thắp hai hàng

Lạc nhau cuối phố sương quàng cổ cây (thơ Du Tử Lê).

Thời kỳ này các nhạc sĩ và thi sĩ như bị ám ảnh về cái chết buồn rầu nơi xa xứ phản ảnh một tình thế tuyệt lộ đường về quê hương và phản ảnh một cộng đồng đang sống phân tán lạc lõng chưa đông vui như bây giờ. Ví dụ trong bài "Người di tản buồn" nhạc sĩ Nam Lộc có ý nghĩ khi chết ước gì được chôn cất nơi một bờ kinh quê hương "gọi anh em còn ai hay mất ai". Nhà thơ Du Tử Lê viết "Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển" lại một lời ước nguyện thi sĩ xin thân xác được trôi về an giấc ngàn thu bên rặng tre già thiên thu hồn đất nước:

Bên kia bờ là quê hương tôi đó

Rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì

Cũng nói về cái chết nhưng là cái chết trên biển Đông của những người vượt biển bị đắm tàu: xin tóm gọn chủ đề nguyên thi tập của một nhà thơ khác. Đây là tác giả tập thơ Thủy mộ quan nhan đề gợi cho ta thấy tính chất huyền ảo của một nghĩa trang dưới đáy biển. Cảm hứng về biển không phải là hiếm thời kỳ ta đi năm châu bốn biển nhưng phối hợp huyền sử dân tộc với dữ kiện thời thế là độc đáo của tập thơ ví dụ:

Nhân loại giong tàu tới biển Đông

Tin đồn thềm biển có kim cương

Nếu không ngọc quý không vàng quặng

Sao đáy sâu nghìn kẻ liệm xương

...

Sinh ở đâu mà giạt bốn phương

Trăm con cười nói tiếng trăm giòng

Ngày mai nếu trở về quê cũ

Hy vọng ta còn tiếng khóc chung.

(Viên Linh)

Nói về biển như các nhà thơ nhạc sĩ  kể trên nằm trong lẽ tất yếu của thời thế biển gợi hứng văn chương của thế kỷ ta có mặt gần như khắp nơi trên địa cầu. Ngoài điều này ra ta đừng nghĩ đề tài về biển đã quá cũ mòn. Cũ mòn vì ta không bắt mạch đúng lòng khao khát tân kỳ hóa những đề tài tưởng như đã cũ ngàn năm. Ví dụ phim truyện Tàu Titanic làm khởi sắc đề tài về biển; cũng đại dương bao la huyền ảo như phim truyện Moby Dick thực hiện từ cuốn tiểu thuyết của nhà văn Herman Melville. Nhưng Tàu Titanic còn lồng vào một chuyện tình cao đẹp hy sinh không giai cấp thần tiên cho lứa đôi; có thể còn triết lý khuyên con người đừng quá tin tưởng vào máy móc như "Tàu Titanic không thể nào chìm".

Bài này giới hạn ở việc "THẤY" một cách cụ thể nguồn thơ thiên về mỹ cảm và tình cảm. Thiết nghĩ nếu đặt vấn đề "Viết những gì hai nơi cùng BIẾT" thì sẽ bàn không biết bao nhiêu là lãnh vực khác.

Walnut California; viết năm 1998 bổ túc năm 2009

© 2009 Trần Văn Nam
© 2009 talawas blog